Một Buổi Sáng Đọc Thơ Tuệ Sỹ
nguồn:
Văn Học (California) số đặc biệt Tuệ Sỹ Lê Mạnh Thát
Số 35, tháng 12 năm 1988
Văn Học (California) số đặc biệt Tuệ Sỹ Lê Mạnh Thát
Số 35, tháng 12 năm 1988
Ta làm kẻ rong chơi từ hỗn độn
Treo gót hài trên mái tóc vào thu
Ngồi đếm mộng đi qua từng đọt lá
Tuệ Sỹ
Treo gót hài trên mái tóc vào thu
Ngồi đếm mộng đi qua từng đọt lá
Tuệ Sỹ
Hình như Tuệ Sỹ làm thơ rất nhiều; nghe nói lúc băng rừng vượt núi trong
thời gian đấu tranh bí mật để liên lạc giao kết với mặt trận rừng núi cao
nguyên, trên những ngọn đèo trùng điệp của quê hương, Tuệ Sỹ đã làm rất nhiều
thơ; hình như có người đã giữ lại nhiều tập thơ chưa xuất bản và không chịu phổ
biến. Tôi chỉ được đọc đi đọc lại hai bài thơ của Tuệ Sỹ. Hình như hai bài thơ
này đã được làm trước khi cộng sản vào chiếm miền Nam (và đã được phổ biến
nhiều lần trên các báo chí hải ngoại hiện nay). Thơ của Tuệ Sỹ không phải chỉ
có thế, hiển nhiên. Tuy nhiên, chỉ nội hai bài thơ cũng đủ nói lên thế giới thơ
mộng lặng lẽ của Tuệ Sỹ.
Thế giới thơ mộng lặng lẽ của Tuệ Sỹ không có nhan đề;
hai bài thơ đều không có tựa. Một người đã từng quen biết Tuệ Sỹ nhiều chắc
chắn phải ngạc nhiên: Tuệ Sỹ không để lộ ra bất cứ hình ảnh hay chi tiết gì có
liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với đời sống cá nhân thường nhật của mình. Có
lẽ đặc tính thứ nhất của thơ Tuệ Sỹ là không có “cá tính”. Đi ngược lại với
thói quen phê bình thơ văn của phần đông (ai cũng muốn đi tìm “cá tính” của mỗi
thi sĩ), tôi nghĩ rằng cái việc thể hiện cái “không có cá tính” trong thơ là
điều khó khăn nhất cho một người làm thơ. Cá tính được cụ thể hóa qua những
hình ảnh chi tiết của đời sống cá nhân thường nhật; ngay đến những bài thơ
khách quan lạnh lùng của thi hào Hy Lạp hiện đại Cavafy cũng mở rộng rõ ràng
tiểu sử đời sống cá nhân thường trực hàng ngày của chính đương sự; ngay cả
những bài thơ tuyệt tác của thi hào thế kỷ XVI-XVII của Anh John Donne, gọi là
nhà thơ “siêu hình” nhưng cũng để lộ những nét sâu đậm của đời sống cá nhân
thường nhật. Trái lại với Tuệ Sỹ, đời sống cá nhân thường nhật đã vắng mặt; còn
cá tính đã được bôi sạch hay đã được ẩn giấu nhẹ nhàng đâu đó. Về hai bài thơ
không nhan đề, tôi xin gọi bài A và bài B để tiện điểm danh; hai bài thì đều không
có chấm phết; trong bài A chỉ có dấu chấm hỏi bất ngờ duy nhất:
Chẳng một lần lầm lỡ không ư?
Câu hỏi mà cũng chẳng phải câu hỏi: câu hỏi trên chỉ để
nhấn mạnh một cách tương phản một cái gì dứt khoát nhất nằm ở câu thơ thứ năm:
Một lần định như sao ngàn đã định
Chúng ta hãy để ý hai chữ “một lần” trong câu trên và
trong câu hỏi: mấy chữ “một lần” mang tất cả sức nặng gợi nghĩa của chữ Đức
“Einmal” (một lần) trong thơ của Rainer Maria Rilke. Tuệ Sỹ đã sử dụng bốn lần
mấy chữ “một lần” trong bài thơ A (trong câu 5, câu 6, câu 11 và câu 12) và mỗi
lần dùng “một lần” trong câu đầu thì câu kế tiếp cũng vang lên “một lần”nữa.
Xin đọc một lần nữa:
Một lần định như sao ngàn đã định
Lại một lần nông nổi vết sa cơ
Lại một lần nông nổi vết sa cơ
(câu 5 và câu 6)
Một lần ngại trước thông già cung kỉnh
Chẳng một lần lầm lỡ không ư?
Chẳng một lần lầm lỡ không ư?
(câu 11 và câu 12)
Chúng ta cũng cần để ý những chữ “định”, “nông nổi”
“ngại”, “lầm lỡ” đi theo sau mấy chữ “một lần”. Một lần định, một lần
nông nổi, một lần ngại, một lần lầm lỡ. Như thế có nghĩa là gì?
Không có gì than tiếc cả, ngược lại. “Định” chỉ có ý nghĩa là “định” mỗi khi
“định” được thực hiện bi tráng giữa những nông nổi, những ngại ngùng,
những lầm lở vô định. Đây chẳng phải là cái ngờ vực bất hủ của Descartes (đã
được an nhiên xác định trước từ
dự tưởng về nền tảng bất di dịch tuyệt đối của chân lý như là “xác thực tính”,
tức là “Certitudo” trong ý nghĩa siêu hình của tuyệt điểm triết lý triết lý
Descartes, nghĩa là “Fundamentum Absolutum Inconcussum Veritatis” (theo nghĩa
vừa dịch trước khi dẫn). Cũng chẳng lưỡng lự theo điệu đã được nuôi dưỡng trong
tư tưởng Long Thọ thì không thể rơi vào Chủ quan tính hay Khách quan tính như
thế (mà Cá tính chỉ là hậu quả tất yếu của Siêu Hình Học Tây Phương cận đại và
hiện đại về Chủ Thể Tính; và Khách quan tính cũng chỉ là hậu quả đương nhiên
của Chủ Thể Tính tương đối và tuyệt đối của Kant và Descartes và tuyệt đối nhất
là của Hegel). Xin trở lại bài thơ A, và xin đọc lại hai câu mở đầu:
Này đêm rộng như khe rừng cửa biển
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa
Và xin đọc lại hai câu cuối của bài thơ:
Ngày mai nhé ta chờ mi một chuyến
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa
Tất nhiên tôi phải ngạc nhiên và ngừng lại suy nghĩ: tôi
không bao giờ thấy Tuế Sỹ có tóc (chỉ sau ngày cộng sản nhốt tù thì tóc mới mọc
lên). Thầy tu không có tóc lại làm thơ với hình ảnh trữ tình lặp đi lặp lại hai
lần trong bài A (“vén lại tóc xa xưa”) và một lần trong bài B (“Treo gót hài
trên mái tóc vào thu”). Tóc ở đây là tóc của ai? Của một thiếu nữ? Tầm thường
quá và không hẳn là thế. Dù là thầy tu đi nữa thì đôi lúc cũng mơ mộng như mọi
người cho vui nhẹ trong không khí khổ hạnh? Tóc của đàn ông? Cũng không hẳn
thế? Thôi thì cứ gọi tóc của thơ, đủ rồi. Có thể tạm chẻ sợi tóc ra làm tư và
gọi là “tóc của tục đế, thế đế” theo tinh thần của Long Thọ ” (Chân đế hay đệ nhất nghĩa đế thì phải cần đến Tục đế hay Thế đế, vì “Niết Bàn không khác mảy may nào cả với Luân
Hồi”: tuyệt đỉnh cao siêu nhất của Phật Giáo). Bỏ triết lý và tôn giáo qua một
bên, và xin trở lại thế giới của Tuệ Sỹ và xin đọc lại từ đầu với 6 câu mở đầu
bài:
Này đêm rộng như khe rừng cửa biển
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa
Miền đất đỏ trăng đã gầy vĩnh viễn
Từ vu vơ trong giấc ngủ mơ hồ
Một lần định như sao ngàn đã định
Lại một lần nông nổi vết sa cơ
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa
Miền đất đỏ trăng đã gầy vĩnh viễn
Từ vu vơ trong giấc ngủ mơ hồ
Một lần định như sao ngàn đã định
Lại một lần nông nổi vết sa cơ
Cách hạ vần cuối rất rộng rãi (…ưa,…ồ,…ơ, …iễn, …inh) chữ
“Này” bắt đầu câu thơ để gọi. Thơ là gọi: gọi tên, hay đúng hơn: gọi sự có mặt,
gọi sự hiện diện. Thơ thường khi cũng gọi sự vắng mặt, làm cho sự vắng mặt được
có mặt. Đêm là sự vắng mặt của ban ngày.
Này đêm rộng như khe rừng cửa biển
“Đêm rộng” ở đây không có nghĩa là đêm lớn rộng, mà có
nghĩa là mở rộng ra như khe mở rộng ra rừng và cửa mở rộng ra biển; đêm rộng là
đêm mở rộng ra ngày mai như câu thơ 13 trước câu thơ cuối:
Ngày mai nhé ta chờ mi một chuyến
Và câu cuối:
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa
Câu cuối 14 lặp lại câu thứ hai như điệp khúc quyết định:
“Hai bàn tay” chớ không phải một bàn tay. Thiếu nữ vén tóc thường khi chỉ vén
có một tay chỉ có tráng sĩ tóc dài theo điệu “thử địa biệt Yên Đan”mới vén tóc
bằng cả hai tay nhất quyết: “nhất khứ bất phục hoàn”. Mấy chữ “xa xưa” cũng có
thể hiểu ngược lại thời gian thông thường là “xa xưa của tương lai”, vì chính
mấy chữ “ngày mai nhé” đã được mấy chữ “xa xưa” mở rộng chân trời như “cửa
biển”, hay ẩn giấu chân trời và mở rộng thời gian như “khe rừng” hay “sao
ngàn”: mỗi “một lần”, mỗi một bước chân của Thời gian là cô đọng lại Thời gian
tinh túy “vĩnh viễn” (không phải “vĩnh viễn” theo điệu “cái hiện tại đứng ở
lại” của thần học thánh Augustin “Nunc Stans”mà theo nghĩa “hiện tại thu phối
vĩnh cửu” của thuật ngữ Heidegger: Augenblick-Augenblitz”: tia chớp xé rách
thời gian của Héraclite và khi mở Vĩnh cửu, cái Một mở rộng và thu phối cái Tất cả (Hen Panta) theo nhịp Hoa Nghiêm Kinh (một lần bao dung tất cả lần). Quan niệm “Nunc Stans” xuất
phát từ tư tưởng Hữu Thể, còn
“Vĩnh Viễn” của Tuệ Sỹ nằm gọn trong sự vắng mặt của Không Tính. Tuy vậy, Tuệ
Sỹ không bao giờ sử dụng danh từ Phật học trong thơ (khác hẳn với những thi sĩ
thích làm thơ “thiền”, dù Tuệ Sỹ đã từng làm việc chơi “tay trái” là dịch giỡn
bộ Zen của Suzuki. Thực ra ít có người tu chứng cùng hiểu Thiền như Tuệ Sỹ.)
Mấy chữ “không như” và “không hư” trong câu thơ 8 và 10 chẳng có liên hệ mảy
may gì với chữ “không” trong “Không tính” của Bát Nhã và Thiền. Sự vắng mặt nói lên sự có mặt nào đó.
Bây giờ đọc lại trọn bài thơ A (gồm 14 câu, mỗi câu 8
chữ), chúng ta tự hỏi nhà thơ muốn nói gì? Đọc thơ mà thấy rằng tác giả muốn
nói rõ cái gì thì chẳng còn là thơ nữa. Nhưng có lẽ câu thứ 5 (“một lần định
như sao ngàn đã định”) và hai câu cuối (“…ngày mai nhé ta chờ mi một chuyến/
hai bàn tay vén lại tóc xa xưa”) cũng gợi chủ ý cho ta rất nhiều? Như trong bài
B (“…Một buổi sáng nghe chim trời đổi giọng/ người thấy ta xô dạt bóng thiên
thần”) đã gợi chủ ý cho tất cả bài B. Có lẽ đặc tính thứ hai trong thơ của Tuệ
Sỹ là trừu tượng hóa bản thân
cụ thể, trừu tượng hóa cá tính.
Tôi dùng mấy chữ trừu tượng ở
đây trong ý nghĩa đẹp nhất và thơ mộng nhất, như nhà thơ vĩ đại Paul Valéry đã
“trừu tượng hóa” nhân vật tản văn thường mang tên là “Monsieur Teste”. Tuệ Sỹ
không hề đọc Valéry mà thường đọc đi đọc lại một nhà thơ trái ngược hẳn với
Valéry là Heine. Điệu thơ Đường Tống cũng đã được dấu kín lặng lẽ trong thơ Tuệ
Sỹ, mặc dù Tuệ Sỹ đã từng thuộc nằm lòng cả thế giới Tống Đường. Nói rằng thơ
của Tuệ Sỹ hay hoặc không hay thì lố bịch. Chỉ có thể nói rằng thơ của Tuệ Sỹ
đáng được chúng ta đọc đi đọc lại nhiều lần và suy nghĩ lan man hoặc cảm nhận
tùy hứng. Ít nhất có một người làm thơ đáng cho ta đọc giữa “sống chết với điêu
tàn vờ vĩnh” để cho chúng ta còn có được “một buổi sáng nghe chim trời đổi
giọng.” Đặc tính thứ ba và cuối cùng của thơ Tuệ Sỹ chính là tiếng thơ đổi
giọng của một loài chim đi từ cõi xa xưa của vô biên tế kiếp trong lòng sâu
thẳm của Tính Mệnh Quê Hương.
@Phạm Công Thiện
California, ngày 18 tháng 11, 1988
California, ngày 18 tháng 11, 1988

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét